HÔN NHÂN:4 CÁCH KIỂM SOÁT ĐỂ TÀI SẢN CHUNG KHÔNG THÀNH TÀI SẢN RIÊNG CỦA MỘT NGƯỜI

HÔN NHÂN:4 CÁCH KIỂM SOÁT ĐỂ TÀI SẢN CHUNG KHÔNG THÀNH TÀI SẢN RIÊNG CỦA MỘT NGƯỜI
  • Bài viết của Luật sư Lê Vinh, Trưởng Văn phòng Luật sư Chương Dương, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội -
  • Hợp đồng hôn nhân là cách tốt nhất bảo vệ tài sản mỗi người
    Hợp đồng hôn nhân là cách tốt nhất bảo vệ tài sản mỗi người
            Tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung hợp nhất. Nó được quy định trong các luật khác nhau. Điều 207 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể. Hai loại sở hữu chung là sở hữu chung hợp nhất và sở hữu chung theo phần. Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Khi một trong hai người thực hiện giao dịch mà tài sản có giá trị lớn thì phải được sự đồng ý của bên kia. Các điều 33, 34, 35, 36, 37 Luật Hôn nhân Gia đình 2015 quy định về tài sản chung vợ chồng. Theo đó: Tài sản chung vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng; tài sản vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Tài sản chung vợ chồng đưa vào kinh doanh còn phải tuân thủ các quy định khác của luât doanh nghiệp.
Trên thực tế, việc thỏa thuận hai vợ chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất tuy chưa phổ biến nhưng vẫn thường diễn ra. Nói nó chưa phổ biến là vì vợ chồng Việt Nam thường không lập với nhau một thứ gọi là hợp đồng hôn nhân. Nói nó vẫn thường diễn ra là vì ngân hàng, khi cho ai đó vay, thường yêu cầu cả hai vợ chồng kí vào hợp đồng thế chấp. Người ta mặc định cả hai đã thỏa thuận mới đặt bút.
            Tình trạng chung là thỏa thuận hai vợ chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất chưa được quan tâm đúng mức. Chính vì vậy xuất hiện tình trạng một người đánh mất phần tài sản của mình trong khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, thậm chí đánh mất tài sản thuộc sở hữu của riêng mình vào tay người kia. Ví dụ: Trước khi kết hôn, A đứng tên sở hữu một căn nhà. Sau đó A kết hôn với B. B muốn vay ngân hàng và thuyết phục A dùng căn nhà làm tài sản thế chấp. Sau khi vay được tiền, B dùng tiền đó mua đất và đứng tên mẹ mình. Vì không thể trả được tiền cho ngân hàng, ngân hàng phát mại căn nhà để trừ nợ.
            Từ ví dụ trên, tác hại của việc không thỏa thuận, hoặc nếu có thì không kiểm soát việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, trong đó có tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất là quá rõ ràng. Tài sản bị chuyển từ người nọ sang người kia. Tình trạng tranh chấp, kiện cáo giữa chủ tài sản – hai vợ chồng – với nhau và với người thứ ba xảy ra.
           Nên thỏa thuận và kiểm soát thỏa thuận khi định đoạt tài sản chung vợ chồng, tài sản riêng của một người nhưng có giá trị như thế nào để không bị chuyển hóa thành tài sản riêng của người kia?
1/Nên tìm hiểu, tốt nhất là có một luật sư để giải thích bản chất các giao dịch, thỏa thuận… trước khi dùng tài sản chung có giá trị như nhà, đất… để làm tài sản đảm bảo cho việc vay mượn, hay góp vốn làm ăn.
2/Tránh tối đa việc ủy quyền cho người khác, người thứ ba, vợ/chồng thay mặt mình định đoạt phần tài sản chung. Điều này đảm bảo việc kiểm soát tài sản.
3/Sau khi kí các hợp đồng dùng tài sản chung để làm tài sản đảm bảo cho một khoản vay, hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp… nên kiểm soát việc sử dụng tiền vay, quá trình làm ăn kinh doanh của doanh nghiệp đó.
4/Việc xử lý tài sản đảm bảo là tài sản chung của vợ chồng là khâu sau cùng sau khi người đi vay không thể trả được nợ. Nên thường xuyên kiểm soát, gây áp lực để người đi vay trả món nợ đó trước, không để đến khi phải dùng tài sản đảm bảo để trả nợ.